Bình chọn

Theo bạn thông tin nội dung website thế nào ?

Phong phú đa dạng
Dễ sử dụng
Hữu ích

292 người đã tham gia bình chọn

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 69

  • Hôm nay 3573

  • Tổng 10.800.036

Tìm hiểu Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

Font size : A- A A+
Luật Tổ chức chính quyền địa phương (gọi tắt là Luật)) được Quốc Hội khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 9, gồm 8 chương, 143 điều, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Luật  đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 và các chủ trương, định hướng của Đảng về chính quyền địa phương; đồng thời kế thừa những nội dung hợp lý và sửa đổi, bổ sung các bất cập, vướng mắc qua 12 năm thực hiện Luật tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) năm 2003. 

So với Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì Luật tăng 2 chương, 3 điều và có những điểm mới, cụ thể như:

Về đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương
Theo Luật (Điều 2,3,4), chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã gồm có HĐND và UBND. Chính quyền địa phương được phân chia thành chính quyền ở nông thôn và chính quyền ở đô thị. Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương tỉnh, huyện, xã. Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn. Ngoài ra Luật còn quy định thêm đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt.
Như vậy, Luật đã bổ sung thêm đơn vị hành chính địa phương, đó là thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; quy định phân biệt giữa chính quyền địa phương ở nông thôn và ở đô thị phù hợp với đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư, kết cấu hạ tầng và yêu cầu quản lý ở mỗi địa bàn. Đây là những quy định nhằm cụ thể hóa Điều 110 Hiến pháp năm 2013. 
Về cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND
Cơ cấu tổ chức, theo quy định của Luật, ở cấp huyện, Thường trực HĐND gồm Chủ tịch HĐND, 2 Phó Chủ tịch HĐND và các Ủy viên là Trưởng ban của HĐND; Chủ tịch HĐND cấp huyện là đại biểu HĐND có thể hoạt động chuyên trách; Phó Chủ tịch HĐND cấp huyện là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách. Ở cấp xã, Thường trực HĐND chỉ có Chủ tịch HĐND là đại biểu HĐND có thể hoạt động chuyên trách và một Phó Chủ tịch HĐND là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách.
 HĐND các cấp thành lập các Ban HĐND. Ở cấp huyện được thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế-xã hội, nơi nào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì thành lập thêm Ban dân tộc; các Ban có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các ủy viên; Phó Trưởng ban hoạt động chuyên trách. Ở cấp xã được thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế-xã hội; các Ban có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các ủy viên đều hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm.
Như vậy, so với Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Luật đã quy định tăng 1 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, hoạt động chuyên trách (thay cho chức danh ủy viên Thường trực trước đây). Các Ban của HĐND được thành lập đầy đủ ở HĐND ba cấp tỉnh, huyện, xã và theo xu hướng nâng cao tính chuyên trách trong hoạt động của các Ban; Trưởng ban HĐND cấp xã không nằm trong Thường trực HĐND cấp xã. Ngoài ra HĐND cấp tỉnh, cấp huyện được thành lập Tổ đại biểu HĐND; cấp xã không thành lập Tổ đại biểu HĐND như trước đây.
Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND các cấp, để khắc phục việc giao nhiệm vụ, quyền hạn mang tính bao quát chung như trước đây, Luật đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn một cách sát thực, chi tiết hơn cho HĐND ở nông thôn, ở đô thị, ở hải đảo và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
Riêng nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND phường đã được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu quản lý thống nhất, liên thông trong khu vực nội thành, nội thị tại các đô thị. Cụ thể, ngoài việc thực hiện chức năng đại diện và giám sát theo quy định chung, HĐND phường tập trung thực hiện 2 nhóm nhiệm vụ liên quan đến việc quyết định các vấn đề ở địa phương gồm: thông qua ngân sách phường theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và bầu nhân sự HĐND, UBND cùng cấp.
Về cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của UBND 
Cơ cấu tổ chức, Luật quy định số lượng thành viên UBND cấp tỉnh, cấp huyện tăng lên. Theo đó, người đứng đầu các cơ quan chuyên môn của UBND và người đứng đầu cơ quan Quân sự, Công an đều là ủy viên UBND. Đây là quy định nhằm phát huy trí tuệ tập thể của các thành viên UBND, tăng cường hiệu lực giám sát của HĐND đối với UBND cùng cấp thông qua cơ chế lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu. Luật cũng quy định rõ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện gồm có các phòng và cơ quan tương đương phòng.
Số lượng Phó Chủ tịch UBND các cấp được quy định theo phân loại đơn vị hành chính. Cụ thể, đối với cấp huyện, loại I có không quá 3 Phó Chủ tịch UBND; loại II và loại III có không quá 2 Phó Chủ tịch UBND. Đối với cấp xã, loại I có không quá 2 Phó Chủ tịch UBND, loại II và loại III có 1 Phó Chủ tịch UBND. Ngoài ra, Luật còn bổ sung Điều 124 quy định về việc điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cho phù hợp với quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ.
Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND các cấp, lần này, Luật quy định cụ thể hơn, phù hợp với quy mô và năng lực hoạt động của UBND ở mỗi cấp, hợp lý với đặc điểm và cơ chế quản lý hành chính Nhà nước của vùng nông thôn, đô thị, hải đảo theo hướng chủ yếu tập trung ở cấp tỉnh, giảm dần xuống cấp huyện đến cấp xã để tránh tình trạng dồn việc về cấp cơ sở trong khi khả năng đáp ứng yêu cầu của chính quyền cấp này còn nhiều mặt hạn chế.
Cùng với phân cấp, phân quyền, Luật còn quy định ủy quyền. Theo đó, trong trường hợp cần thiết, cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên có thể ủy quyền bằng văn bản cho UBND cấp dưới hoặc cơ quan, tổ chức khác thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể.
Đối với UBND xã, phường, thị trấn thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn cấp mình và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do UBND cấp trên phân cấp, ủy quyền. Riêng đối với UBND xã, có thêm Điều 125, Luật quy định: hằng năm, UBND xã tổ chức ít nhất một lần hội nghị trao đổi, đối thoại với nhân dân ở địa phương về tình hình hoạt động của UBND và những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân ở địa phương.
Có thể nói, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 là cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo đảm việc tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương; phát huy quyền dân chủ trực tiếp và gián tiếp của nhân dân ở địa phương, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại đất nước./.      
                                                                     Trọng Ngọc 

More