Bình chọn

Theo bạn thông tin nội dung website thế nào ?

Phong phú đa dạng
Dễ sử dụng
Hữu ích

292 người đã tham gia bình chọn

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 5

  • Hôm nay 60

  • Tổng 10.618.014

Một số điểm mới của Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương thay thế Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003) để kịp thời thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng và cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về tổ chức đơn vị hành chính và đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương. Trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa Chính phủ với chính quyền địa phương cấp tỉnh, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc và mối quan hệ công tác của HĐND và UBND ở các đơn vị hành chính, bảo đảm tính gắn kết thống nhất giữa HĐND và UBND cùng cấp trong chỉnh thể chính quyền địa phương, phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; phân định cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền giữa tập thể UBND và cá nhân Chủ tịch UBND theo hướng đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Tăng cường kiểm tra, giám sát của Trung ương và cơ quan nhà nước cấp trên; tăng cường công khai, minh bạch, bảo đảm sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương.

Với 8 chương, 143 điều, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã quy định về đơn vị hành chính và tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính ở nước ta trên cơ sở kế thừa, phát triển và hoàn thiện những quy định của Luật năm 2003 và các văn bản pháp luật khác có liên quan đã được thực tiễn kiểm nghiệm là hợp lý, đúng đắn và hiệu quả; sửa đổi những quy định mà qua thực tiễn cho thấy không còn phù hợp. Tiếp thu có chọn lọc các kết quả từ các sáng kiến cải cách chính quyền địa phương trong những năm qua; nghiên cứu, chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với điều kiện Việt Nam và hoàn thiện kỹ thuật lập pháp, bảo đảm Luật Tổ chức chính quyền địa phương có tính khái quát cao, ổn định, hiệu lực lâu dài và thống nhất với các Luật quy định về tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các luật có liên quan.

Luật Tổ chức chính quyền địa phương là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc hoàn thiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính, trong đó có sự điều chỉnh về nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp chính quyền địa phương, về tổ chức, hoạt động của HĐND, UBND và mối quan hệ giữa HĐND, UBND với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân. Chính vì vậy, quá trình triển khai thực hiện Luật tổ chức chính quyền địa phương có một số quy định mới. Cụ thể:
Về mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính: Điều 4 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định “Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 2 của Luật này. Như vậy, chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện); Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
Về cơ cấu tổ chức và hoạt động của HĐND: Quy định tiêu chuẩn, số lượng đại biểu HĐND các cấp (chuyển từ Luật Bầu cử đại biểu HĐND hiện nay sang quy định tại Luật này), trong đó có việc tăng thêm số lượng đại biểu HĐND ở thành phố, thị xã; tăng cường vai trò của Thường trực HĐND, bảo đảm hoạt động thường xuyên giữa 2 kỳ họp HĐND; quy định rõ Thường trực HĐND họp thường kỳ mỗi tháng 1 lần; thay chức danh Ủy viên Thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp huyện bằng chức danh Phó Chủ tịch HĐND; quy định thành viên Thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp huyện, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên là Trưởng Ban của HĐND; Thường trực HĐND cấp xã gồm Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND. Đồng thời giao Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể số lượng thành viên Thường trực HĐND các cấp; quy định nhiệm vụ, quyền hạn về lĩnh vực đô thị, giao thông, xây dựng của Ban kinh tế và ngân sách của HĐND cấp tỉnh, Ban kinh tế - xã hội của HĐND cấp huyện; quy định việc hoạt động chuyên trách đối với Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban của HĐND; quy định tỉ lệ đại biểu HĐND cấp tỉnh, cấp huyện hoạt động chuyên trách phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo; quy định khi có từ 10% trở lên trong tổng số cử tri trên địa bàn cấp xã yêu cầu,Thường trực HĐND cấp xã có trách nhiệm xem xét tổ chức kỳ họp HĐND để bàn về nội dung kiến nghị của cử tri.
Về cơ cấu tổ chức và hoạt động của UBND: Luật đã quy định thành viên UBND cấp tỉnh, cấp huyện gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên (các Ủy viên là người đứng đầu cơ quan quân sự, công an, cơ quan chuyên môn thuộc UBND và Chánh Văn phòng UBND) để bảo đảm nguyên tắc làm việc tập thể của UBND bao quát đầy đủ các lĩnh vực chuyên môn, tạo điều kiện thực hiện việc giám sát của HĐND và lấy phiếu tín nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan quân sự, công an, cơ quan chuyên môn thuộc UBND và Chánh Văn phòng UBND; quy định thành viên UBND cấp xã gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên là Chỉ huy trưởng Quân sự, Trưởng Công an. Đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể số lượng thành viên UBND các cấp; quy định kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND do người đứng đầu cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp phê chuẩn. Riêng đối với chức danh ủy viên UBND thực hiện nhiệm vụ ngay sau khi được HĐND cùng cấp bầu và ra nghị quyết xác nhận kết quả bầu cử (không phê chuẩn kết quả bầu cử như hiện nay); phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể UBND và Chủ tịch UBND theo hướng đề cao trách nhiệm của Chủ tịch UBND trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình và trong việc đình chỉ chức vụ đối với Chủ tịch UBND cấp dưới trực tiếp, chỉ định Quyền Chủ tịch UBND cấp dưới trực tiếp trong trường hợp khuyết Chủ tịch UBND; quy định cơ quan chuyên môn thuộc UBND được UBND ủy quyền thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước ở địa phương; quy định người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND và Chánh văn phòng UBND do Chủ tịch UBND bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi có Nghị quyết của HĐND cùng cấp bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Ủy viên UBND; quy định UBND cấp xã mỗi năm có trách nhiệm tổ chức ít nhất một lần hội nghị trao đổi, đối thoại với Nhân dân về tình hình hoạt động của UBND và những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của công dân ở địa phương.
Về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp: Luật này đã quy định những nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của chính quyền địa phương (HĐND và UBND) các cấp để bảo đảm gắn kết thống nhất giữa HĐND và UBND cùng cấp trong chỉnh thể chính quyền địa phương, làm rõ chức năng của UBND ‘‘là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp’’ và ‘‘là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương’’ và quy định rõ những nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp theo quy định của Hiến pháp năm 2013; những nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp và những nhiệm vụ, quyền hạn được ủy quyền (trong những trường hợp cần thiết); đồng thời quy định các nhiệm vụ, quyền hạn riêng có của HĐND và UBND ở từng loại hình đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo (trong đó quy định những việc UBND là cơ quan chấp hành phải trình HĐND cùng cấp quyết định; những việc UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương quyết định theo thẩm quyền). Mặt khác, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương còn thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều luật chuyên ngành nên các nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, UBND trong Luật chỉ quy định khái quát  còn các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể theo từng lĩnh vực do các luật chuyên ngành điều chỉnh.
Về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính quận, phường, Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định ngoài việc thực hiện chức năng đại diện và giám sát theo quy định chung thì HĐND quận, phường tập trung thực hiện 3 nhóm nhiệm vụ liên quan đến việc quyết định các vấn đề ở địa phương, cụ thể là: (1) thông qua ngân sách quận, phường theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; (2) bầu nhân sự của HĐND, UBND cùng cấp; và (3) thông qua Đề án thay đổi đơn vị hành chính ở quận, phường.
Như vậy, Luật tổ chức chính quyền địa phương đã phân định thẩm quyền giữa các cấp chính quyền địa phương theo hướng đẩy mạnh phân cấp, tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương trong việc quyết định các vấn đề của địa phương. Theo đó, các luật chuyên ngành khi quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của chính quyền địa phương các cấp phảiđẩy mạnh phân cấp phù hợp với các nguyên tắc và các nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp chính quyền địa phương, bảo đảm sự quản lý thống nhất của Trung ương, tính thông suốt của nền hành chính quốc gia.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình, HĐND, UBND các cấp được ban hành các văn bản hành chính theo thẩm quyền; đồng thời quy định chính quyền cấp huyện, cấp xã không ban hành văn bản quy phạm pháp luật; việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp tỉnh theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Những quy định mới này sẽ là cơ sở cho một nền hành chính thông suốt, thật sự của dân, do nhân dân và vì nhân dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trong  giai đoạn hiện nay.
                                                                      Nguyễn Ngọc Nam
 

Các tin khác